Đăng nhập

Tên đăng nhập
Mật khẩu

Video

 

 

 

Thống kê truy cập

Đang trực tuyến 10
Hôm nay 40
Tháng này 2154

Lê Quý Đôn và Bài Thơ “Rắn Đầu Biếng Học”

 Lê Quý Đôn và Bài Thơ “Rắn Đầu Biếng Học”

 

 

Người ta kể rằng một hôm, một người bạn của cha ông Lê Quý Đôn đến thăm. Nghe người ta khen con của bạn mình còn trẻ mà đã hay chữ, ông khách lấy đầu đề “Rắn Đầu Biếng Học” để thử tài. Chỉ ít  phút sau, ông Lê Quý Đôn đã làm xong bài thơ:

Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà! 

Rắn đầu biếng học lẽ không tha 

Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ, 

Nay thét mai gầm rát cổ cha.

Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo, 

Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da.

Từ nay Trâu, Lỗ xin siêng học,

Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia!

Bài thơ của ông làm rất đúng vần, đúng luật và hợp đầu đề “ Rắn Đầu Biếng Học”. Đặc biệt, mỗi câu đều có tên của một loài rắn.

Ông Lê Quý Đôn sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (2 tháng 8 năm 1726) tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam; nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến Sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (Tân Sửu, 1721), làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư, tước Nghĩa Phái Hầu. Mẹ Lê Quý Đôn họ Trương, là con gái thứ ba của Trương Minh Lượng, đỗ Tiến Sĩ khoa Canh Thìn (1700), trải nhiều chức quan, tước Hoằng Phái Hầu.

Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn nổi tiếng là người ham học, thông minh, có trí nhớ tốt. Ông được người đương thời coi là "thần đồng". Năm lên 5 tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, ông đã học làu thông kinh, truyện, các sử, các sách...

Năm Kỷ Mùi (1739), ông theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Năm Quý Hợi (1743) đời vua Lê Hiển Tông, ông dự thi Hương và đỗ đầu Giải Nguyên lúc 17 tuổi. Sau đó, ông cưới cô Lê Thị Trang ở phường Bích Câu làm vợ. Cô là con gái thứ bảy của ông Lê Hữu Kiều, Tiến Sĩ khoa Mậu Tuất (1718).

Tuy đỗ đầu kỳ thi Hương, nhưng thi Hội mấy lần ông đều không đỗ. Ông ở nhà dạy học và viết sách trong khoảng 10 năm (1743-1752). Sách Đại Việt Thông Sử(còn gọi là Lê Triều Thông Sử) được ông làm trong giai đoạn này (Kỷ Tỵ, 1749).

Năm 26 tuổi (Nhâm Thân, 1752), ông lại dự thi Hội, và lần này thì đỗ Hội Nguyên. Vào thi Đình, ông đỗ luôn Bảng Nhãn. Vì kỳ thi này không lấy đỗ Trạng Nguyên, nên kể như cả ba lần thi, ông đều đỗ đầu.

                                                                                                                                     Trần Thi sưu tầm